Latest Posts

Những dặm đường ngát hương hoa cỏ, những không gian mây trắng trời xanh, những tuyết trắng, nắng vàng, rồi thì áo hồng áo lục, chung tình hay phụ bạc, thề non hẹn biển gì rồi cũng một cuộc biển dâu... Gì cũng phải bỏ lại hết để mà đi. Đi về đâu mới được chứ? Ừ thì một cõi phù vân!

Suy cho cùng, kiếp người hay cuộc tu chỉ là những lần ghé lại đâu đó. Nói ở nghĩa nào thì người ta không ai có thể chung thân với một thứ gì miên viễn. Mình không bỏ nó thì nó cũng xa mình. 

Ta có thể mất nó, vì nhàm chán hay không còn cơ hội nắm níu. Và cái mà ta yêu nhất cũng có nhiều kiểu bỏ ta ở lại mà đi. Hồi xưa bắt chước theo kinh mà nói thì cái gì cũng là bè cỏ qua sông... Giờ có thêm tí tuổi, nhiều lúc nằm ngẫm nghĩ một mình, thấy câu nói ví von đó hay quá chừng, hay đáo để.

Kinh chép: Ngày xưa có ông đạo sĩ Sumedha thừa sức chứng quả La-hán, nhưng ông không cam tâm giải thoát gọn nhẹ, lặng lẽ và an nhàn như thế. Ông chỉ muốn thành một vị đại giác y hệt Thế Tôn Nhiên Đăng để mà gồng gánh thiên hạ. Phật nhìn kỹ căn cơ của ông không phải loại xoàng, bèn ừ cho một tiếng. Ông vui quá, trở thành Bất Thối Bồ-tát, đời đời thủy chung với đại nguyện của mình. 

Kinh nói Thế Tôn Cồ Đàm chính là kiếp cuối cùng của ông đạo sĩ Sumedha ngày trước. Khổ tu chừng đó thời gian, thành Phật rồi chỉ sống thêm 45 năm thì bỏ đời mà đi. Trước sau thọ lượng chỉ vừa vặn 80 năm ngắn ngủi. Với Ngài vậy cũng là quá nhiều. Bởi nào ai biết Ngài từng có ý viên tịch từ năm 35 tuổi, ngay sau khi thành Phật. Với những người nặng tình với Phật thì thời gian 80 năm đó chẳng bõ bèn gì. 



Đến ngài Ānanda còn thấy Phật đi quá sớm, tôn giả đã khóc thầy bằng nước mắt của một bậc thánh. Thôi thì gì cũng một áng phù vân, khác nhau chăng là mây lành ngũ sắc hay mây xám báo giông. Khoảng ba tháng sau ngày Phật tịch, hiểu ra chuyện đó, tôn giả Ānanda không buồn nữa. Rồi thì đến phiên ngài cũng theo Phật mà đi biệt!

Đó là chuyện của thánh hiền. Còn với phàm tâm thì sao chứ? Lại cũng vẫn là chuyện được rồi mất. Mất có hai cách: Một là không muốn giữ nữa nên buông; hai là bàn tay quá yếu không đủ sức nắm níu nên đành để vuột mất. Cái quan trọng là người ta có thấy được cái nguyên tắc khốc liệt của cuộc đời – là anh phải lần lượt bỏ lại hết để mà đi tới hay không!?

Thằng bé phải buông hết những món đồ chơi của trẻ con để trở thành người lớn. Đó cũng là một hành trình trong đời. Rồi thì tầm nhìn của thiên hạ phải tiếp tục đổi khác để có thể yêu lấy những người không phải thân thuộc huyết thống. Yêu được một người dưng nào đó thì các cô cậu bắt đầu trưởng thành. Giai đoạn này lại cũng chỉ là một chặng đường phải vượt qua. 

Rồi sẽ có một ngày, yêu hay không chẳng còn là chuyện đáng nói nữa. Vấn đề lúc này chỉ đơn giản là có cần thiết hay không mà thôi. Thích hay không chỉ là chuyện phụ. Bước tới được giai đoạn này, hầu hết đều là những tay có hai màu tóc.



Đó là chuyện đời. Chuyện đạo ngẫm kỹ hình như cũng đâu khác gì. Giai đoạn tu chứng nào cũng chỉ là một trạm dừng qua đêm, mai sáng phải tiếp tục đi về phía trước, lên trên cao. Ai nghỉ chân lâu quá, coi chừng cuộc đi đang nảy sinh vấn đề. Đã gọi là con đường thì lúc nào cũng chỉ để đi, không phải để ở. Muốn lên đỉnh núi, phải biết rời khỏi chân núi. Mọi thành tựu trên đường hành đạo đều chỉ là những lữ quán, những bến đò, những sân ga, phi cảng.

Có những cuộc lên đường chất đầy những kỷ niệm như xe bò chở đá. Có những cuộc lên đường nhẹ nhàng như mây trắng đầu non. Hành giả trên đường tu phải là kẻ hành nhân một đời làm những cuộc giã biệt. Nói thiệt, con đường nào cũng có những trở ngại, nhưng ai dám bảo mình chưa từng lưu luyến một nơi chốn nào đó trên những dặm trường đã một lần ghé qua. 

Rồi thì nói một cách đau lòng nhưng không thể khác hơn, là ai cũng phải cắn răng mà băng mình đi về phía trước, hướng tới những chiều cao mà mình chưa đến được. Nguyên tắc thì nghe đơn giản vậy, nhưng thực tế không một hành giả nào đến đích mà chân không rướm máu, chưa kể một trái tim rách bươm với những gai cỏ tàn độc trên đường.

Không bỏ được cái thích, người ta làm sao có được những thứ cần. Tôi được em, có nghĩa là tôi phải mất bản thân tôi. Càng sống nhiều với những ràng buộc, tôi càng đánh mất những cơ hội tự do. Chợt nhớ một câu danh ngôn dành cho mấy người mê mua sắm: “Khi anh mất tiền cho một thứ vô ích nào đó, có nghĩa là anh cũng đang làm mất số tiền để mua một món cần thiết nào đó!”. Tiền bạc thì trên đời có nhiều người thừa sức hoang phí. Nhưng tuổi đời thì không bao giờ được vậy. Ai cũng chỉ có nhiều lắm là trăm năm cho một kiếp người. Còn ăn, hết nhịn. Vậy mà trớ trêu thay, thời gian lại là thứ bị người ta tiêu hoang thường nhất.



Những dặm đường ngát hương hoa cỏ, những không gian mây trắng trời xanh, những tuyết trắng, nắng vàng, rồi thì áo hồng áo lục, chung tình hay phụ bạc, thề non hẹn biển gì rồi cũng một cuộc biển dâu... Gì cũng phải bỏ lại hết để mà đi. Đi về đâu mới được chứ? Ừ thì một cõi phù vân!

Toại Khanh - Vườn hoa Phật giáo


Lòng thả - nét duyên ngầm của ẩm thực miền Trung

Lòng thả, tên ai đặt mà sao không "hình tượng", "hấp dẫn" chút nào nhưng chỉ một lần nếm thử sẽ khiến bạn nhớ mãi.


Lòng thả không chỉ là món ăn ngon mà còn có tác dụng giải cảm, làm ấm người trong những đêm lạnh, khi thức khuya làm việc nặng nhọc, học thi, lúc ma chay hiếu hỉ hay lúc thức xem.. đá bóng trên TV...

Du ngoạn đến miền Trung nắng gió đừng quên nếm thử một tô lòng thả để xem món ăn nghe có vẻ "thô kệch " lại có sức hấp dẫn đến như vậy. Món ngon này còn rất phong phú bởi lòng thả mỗi nơi mỗi khác.

Lòng thả Quảng Trị

Lòng thả ở Quảng Trị còn được gọi là lòng sả bởi có gia vị chính là sả, còn có tên lòng thả là do phương thức thả lòng vào nồi nước. Đây là món ăn rất phổ biến ở Quảng Trị, được nhiều người xem là một món đặc sản của mảnh đất nhiều nắng gió này.


Lòng thả làm bằng cách đánh tiết heo hay tiết vịt cho tan vụn, đổ vào nồi nước, cho sả, nêm gia vị, thêm gạo rang vàng và đậu xanh vào nấu nhừ. Lòng heo hoặc vịt làm sạch, cắt miếng vừa ăn, chờ cháo sôi, đem thả vào nồi, sôi già thì múc ra tô. Khi ăn thêm ớt cho thật cay.


Đây là một món ăn rất đơn giản nhưng độc đáo, có hương vị riêng. Lòng thả có tác dụng giải cảm như cháo cảm, thích hợp ăn vào những hôm thời tiết mát mẻ, mùa lạnh.

Ngoài ra, ở một vài vùng ở Quảng Nam và Huế cũng có món lòng thả. Nhưng lòng thả ở những vùng này không được phổ biến và nổi tiếng như ở Quảng Trị.

Lòng thả Quảng Nam


Lòng thả Quảng Nam còn được gọi bằng cái tên đầy đủ là lòng gà nấu thả. Gà chọn loại gà tơ, thịt mềm, cắt lấy huyết rồi làm lông thật sạch. Lấy bộ lòng làm sạch, cắt miếng nhỏ ướp gia vị. Dùng thịt ở ức gà xắt thật mỏng và nhỏ khổ, ướp với hành tiêu nước mắm.


Bánh tráng nướng đem giã hoặc xay cho nát nhuyễn rồi đem trộn với thịt ướp. Để khoảng 4 giờ nhằm tạo vị chua do bột trong bánh đa lên men. Lấy ít gạo rang sơ với mỡ gà, nấu cùng xương gà thành cháo loãng với những hạt gạo vừa nở lúp búp.

Cháo chín, thả lòng gà vào. Đặt thịt gà đã ướp với bột bánh tráng vào chén, múc cháo cùng lòng gà đang sôi chan lên. Ta đã có món cháo tái với vị thịt ngọt đậm do còn tươi nguyên.

Lòng thả Quảng Nam thường kèm theo rau sống và các loại rau thơm. Khi ăn thường bẻ thêm bánh tráng bỏ vào.


Lòng thả Huế


Lòng thả Huế chủ yếu được chế biến từ vịt. Vịt phải lựa con khỏe mạnh và phải là loại vịt ta, chưa già để thịt còn mềm. Vịt cắt lấy tiết, đem nhổ lông sạch sẽ. Rửa bộ gan, tim. Lọc những miếng nạc ở lườn và đùi (thịt lọc ra giữ nguyên, không rửa nước lạnh).

Rồi thái tất cả thật mỏng, ướp với hành tím, tỏi, nước mắm, tiêu, bột ngọt. Đổ chén tiết và nước cốt chanh tươi vào (canh chừng sao cho độ chua vừa miệng). Trộn đều tất cả cùng với vài nắm bún tàu đã được cắt ngắn, ngâm mềm trước đó. Xong đậy kín. Phần vịt còn lại, chặt miếng, cùng với bộ mề, ruột cho vào nồi nấu để lấy nước dùng.


Khi nồi nước dùng đã được, vớt phần cái ra, cho hỗn hợp thịt, lòng, tiết, bún tàu đã ướp lúc nãy vào nồi nước đang sôi trên bếp lửa. Rồi tắt ngay bếp. Đậy kín nồi chừng mươi phút, xong múc ra ăn liền. Như vậy thịt, gan, tim vừa chín tái. Khi ăn, rắc thêm tiêu vào.


Theo yeudulich (tổng hợp)

Hồi nhỏ cho tới bây giờ cứ ngỡ là ca dao khuyết danh:
"Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc áng trăng vàng đổ đi?"
Bây giờ mới biết đó là thơ, thơ của Bàng Bá Lân. Mời các bạn đọc bài sau của Nguyên Đỗ:
BÀNG BÁ LÂN: MÚC ÁNH TRĂNG VÀNG
Tôi vẫn thường nghe thầy cô tôi dạy văn chương truyền khẩu, ca dao là những câu thơ, lời nói mộc mạc hay văn hoa của người dân thường hay các văn nhân thi sĩ phản ảnh đúng hay tạo cảm xúc cho người nghe được truyền đi truyền lại và trở thành vốn liếng chung của mọi người. Các thầy cô trưng dẫn hai câu thơ của thi sĩ Bàng Bá Lân làm ví dụ:
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.
Quả thực không có gì vinh dự cho người nào bằng những lời nói, câu văn, câu thơ được chấp nhận như một tài sản quý báu của dân tộc như bài Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt hay bài Hịch Tướng Sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô Đại Cáo của Lê Lợi hay hai câu thơ trên của Bàng Bá Lân.
Nhà thơ Bàng Bá Lân nguyên họ Nguyễn Xuân, mới đổi sang họ Bàng được ba đời nay, sinh năm 1912, tại phố Tân Ninh, phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc giang, chánh quán làng Đôn Thư, phủ Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Sau 1945 di cư vào Sài Gòn, dạy học ở các trường tư thục, tiếp tục sáng tác văn thơ; có thời gian làm chủ bút kiêm chủ nhiệm nguyệt san Bông Lúa (Sài Gòn 1956).
Tác phẩm đã xuất bản gồm các tập thơ "Tiếng thông reo (1934)", Xưa (chung với Anh Thơ năm 1941), Tiếng võng đưa (1957), Vào thu (1969). Ông cũng là nhà biên khảo và dịch thuật, đã xuất bản: Việt văn bình giảng (1962), Vài kỷ niệm về các thi văn sĩ hiện đại (2 tập, 1962 –1963), Người vợ câm (1969), Vực xoáy (1969), Phương pháp giáo dục mới (1971), Thầy giáo làng (1971), bốn cuốn sau là văn dịch.
Báo chí và đài phát thanh cũng từng là khung cảnh cho hoạt động văn nghệ của ông. Chưa nói đến một nghề có lẽ đã nuôi sống ông nhiều hơn: nghề nhà giáo. Từ trường Dũng Lạc (Hà Nội) đến các trường Văn Lang, Cộng Hoà, Hoàng Việt, Lê Bảo Tịnh ở Sài Gòn, nhiều thế hệ học sinh đã thích thú nghe ông giảng văn bình thơ và còn giữ mãi kỷ niệm về ông.
Ông còn là nhà nhiếp ảnh nghệ thuật, từng triển lãm và được nhiều giải thưởng trong nước và ở nước ngoài.
Thơ ông gắn liền với làng quê sông núi gây nhiều ấn tượng và cảm xúc lâu dài cho người đọc.


Bàng Bá Lân mất năm 1988.
Trở lại vấn đề hai câu thơ của Bàng Bá Lân đã đi vào ca dao, tôi nghe đã lâu nhưng lúc đó cũng không tò mò thắc mắc hỏi xem nguồn gốc từ bài thơ nào, nên bây giờ muốn tìm hiểu cũng không có dữ liệu cụ thể ngoài một bài viết của một người đồng hương ở Bắc Giang với Bàng Bá Lân. Tôi xin trích nguyên văn ở đây để mọi người cùng tham khảo, biết đâu chừng các anh chị có thể tìm ra được nguyên bản của Bàng Bá Lân.
Hãy trả thơ về cho Bàng Bá Lân!
Hai câu thơ của nhà thơ Bắc Giang: Bàng Bá Lân; và nguyên văn của nó chắc chắn là: "Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi" chứ không phải "Múc ánh trăng vàng đổ đi".
Năm 1972, một anh bạn rủ tôi đến thăm nhà thơ Bàng Bá Lân ở một cái hẻm lớn trên đường Công Lý, Sài Gòn. Hôm ấy là Chủ nhật, ông không phải lên lớp (ông dạy ở Đại học Văn khoa Sài Gòn).
Thực ra, trước khi gặp ông, tôi cũng đã biết đến ông, một nhà thơ tiền chiến quê Bắc Giang, ông nói với tôi là đồng hương. Tôi còn biết ông phụ trách một tiết mục trên đài truyền hình Sài Gòn hồi đó.
Tiết mục mà ông phụ trách là trưng ra nhiều bức hình tư liệu về đời sống, sinh hoạt của mọi tầng lớp dân chúng ở miền Bắc trước năm 1955 như: xe thồ, đi dân công, chống lụt ở vùng chiêm trũng…
Ông có vóc người trung bình, nhanh nhẹn, trang phục bình dân, giản dị. Ông nói chuyện với chúng tôi về thời sự, kinh tế, rồi văn học, văn chương truyền miệng, thơ…
Ông thuộc rất nhiều, giọng đọc thơ rất hay. Ông đọc từ thơ tiền chiến đến thơ Đường, thơ Pháp. Nghe ông đọc, như bị thôi miên. Chờ khi ông ngừng nghỉ một lát, tôi mới nói chen vào, rằng trong ca dao Việt Nam tôi rất thích hai câu:
"Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi".


Tức thì nhà thơ ngắt lời tôi. Ông bảo hai câu thơ đó là trích trong một bài thơ lục bát gồm 12 câu của ông. Rồi ông đọc liền một mạch cả bài thơ đó. Nhưng ông sửa lại câu 8 mà tôi vừa dẫn trên là:
"Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi"
Và ông giải thích: Người ta không thể "múc ánh trăng vàng" mà là "múc trăng vàng" ở dưới nước. Khi cái gầu của cô gái trong câu ca dao, dìm xuống nước thì mặt trăng tan vỡ ra trong nước, hòa với nước, sóng sánh cùng với nước.
Thế là cô gái múc nước tát lên ruộng cao cũng đồng thời múc luôn cả vầng trăng tan vỡ trong đó. Trường hợp này cũng tương tự trong bài thơ "Nhớ rừng" của Thế Lữ. Bài thơ có câu: "Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan". Ở đây con hổ không hề đứng ngửa mặt lên trời để uống ánh trăng trong không khí mà là uống trăng tan trong dòng suối sau khi đã "say mồi".
Nghe nhà thơ giảng nghĩa như vậy, chúng tôi từ chỗ ngỡ ngàng đến khâm phục. Hai câu thơ trên là của nhà thơ Bắc Giang: Bàng Bá Lân; và nguyên văn của nó chắc chắn là: "Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi" chứ không phải "Múc ánh trăng vàng đổ đi".
Mãi về sau này cũng có một vài người lên tiếng công nhận hai câu ca dao trên là của Bàng Bá Lân, trong đó có Giáo sư Huyền Viêm có bài đăng trên "Kiến thức ngày nay".
Tuy nhiên, chưa có ai chỉ rõ sự khác nhau giữa: "Múc ánh trăng vàng" và "Lại múc trăng vàng" như vừa nêu trên. Theo thiển nghĩ của chúng tôi, sở dĩ có sự lầm lẫn trên là do tam sao thất bản.
Rằng, quyển "Ca dao tục ngữ Việt Nam" của tác giả Vũ Ngọc Phan có in hai câu ca dao trên được xuất bản sau năm 1955 ở miền Bắc, còn tác giả của nó tức là nhà thơ Bàng Bá Lân lại di cư vào Nam từ năm 1954. Vì thế nhà thơ không được đọc quyển sách biên khảo của Vũ Ngọc Phan, không thấy sự nhầm lẫn đáng tiếc kể trên để lên tiếng cải chính.
Từ đó đến khi ông mất (1988), tôi chưa hề được gặp lại nhà thơ Bàng Bá Lân. Thỉnh thoảng gặp vài người bạn cố tri có lòng yêu mến văn chương, tôi lại đem tâm sự trên kể cho họ nghe. Suốt thời gian dài ấy, tôi cứ lòng dặn lòng bất cứ khi nào có dịp tôi sẽ đưa niềm tâm sự đó lên mặt báo. Rằng, nếu chưa làm được điều này thì tôi còn day dứt chưa yên. Rằng, món nợ tinh thần với nhà thơ đồng hương vẫn chưa trả được.
Bắc Giang, tháng 6/2007
Hoàng Chí Quang
06 Lê Lợi, T.T Chũ Lục Ngạn, Bắc Giang


Bài viết của ông Hoàng Chí Quang về lời giải thích của nhà thơ Bàng Bá Lân rất có lý. Người ta không thể "múc ánh trăng vàng" mà là "múc trăng vàng" ở dưới nước. Khi cái gầu của cô gái trong câu ca dao, dìm xuống nước thì mặt trăng tan vỡ ra trong nước, hòa với nước, sóng sánh cùng với nước, tạo một hình ảnh rất nên thơ và thực tế. Múc ánh trăng vàng đã hay, nhưng múc trăng vàng hay hơn và càng sinh động hơn. Sự chuyển hóa có lẽ là tam sao thất bản hay truyền miệng nhau nên mất đi phần nào tính nguyên thủy của hai câu thơ. Thiết tưởng đã đến lúc chúng ta cần phục hồi hai câu thơ tuyệt vời kia, trả về nguyên chủ là Bàng Bá Lân đã viết hai câu thơ thật hay đó.
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi

Bàng Bá Lân
Bài này vừa đăng lên, anh Tuấn Tú cũng là người yêu chuộng thơ và thích làm thơ đã bổ sung thêm với bài Trăng Quê, được 6 câu không biết tại sao mất hai câu đầu và bốn câu cuối theo như bài viết của Hoàng Chí Quang đã viết ở trên.


TRĂNG QUÊ
Trời cao, mây bạc, trăng tròn,
Dế than hiu-quạnh, tre buồn nỉ-non
Diều ai gọi gió véo-von,
Cành xoan đùa ánh trăng suông dịu-dàng…
- Hỡi cô tát nước bên đàng!
Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?
Trích trong tập Thơ Tình Bàng Bá Lân
Anh chị em nào có thể truy tìm được trọn bài thơ Trăng Quê xin hãy viết lên đây cho đầy đủ bộ nhé! Cũng là duyên nợ văn chương với nhà thơ Bàng Bá Lân đã sáng tác được những câu thật hữu cảnh hữu tình, êm ái dịu dàng đi vào lòng dân tộc một cách tuyệt vời.
Nguyên Đỗ
(Sưu tầm trên mạng)


“Mỗi khó khăn, thử thách xảy đến với bạn đều ghi dấu cho sự khởi đầu một giai đoạn mới trong cuộc đời của bạn. Thất bại chính là cơ hội để bạn khởi đầu lần nữa một cách hoàn hảo hơn.”

CON SÂU QUA SÔNG BẰNG CÁCH NÀO?

Trong một giờ sinh vật học, thầy giáo hỏi học trò của mình: “Các em có biết loài sâu qua sông bằng cách nào không?”
Khi thầy giáo hỏi: “Các em có biết con sâu qua sông bằng cách nào không?”
Một cậu học trò đưa ra 3 đáp án:


1. “Con sâu đi qua cầu,” thầy giáo lắc đầu nói rằng : “không có cầu.”
2. “Con sâu nằm trên lá qua sông”, thầy giáo nói rằng “Chiếc lá bị nước cuốn trôi đi rồi.”
3. “Con sâu bị chim nuốt vào trong bụng bay qua sông”
Thầy giáo bèn nói rằng “như vậy, nếu sâu chết rồi sẽ mất đi ý nghĩa của việc qua sông”.
Vậy thì con sâu sẽ qua sông bằng cách nào đây?


Thầy giáo đã trả lời các học trò của mình: con sâu nếu muốn qua sông, thì chỉ có một cách, đó là biến thành bươm bướm. Trước khi sâu biến thành bướm phải trải qua giai đoạn khó khăn, nó ở trong cái kén, ban ngày cũng như ban đêm, không ăn không uống. Nỗi khổ này phải trải qua một thời gian rất dài.


Có lẽ mỗi người chúng ta cũng giống như con sâu đó vậy, trong chặng đường cuộc sống đều sẽ gặp phải những khó khăn, thất bại, có người đối mặt với những khó khăn thì bi quan thất vọng, không có cách nào thay đổi chính mình, ngược lại có người dũng cảm vượt qua, không ngừng thử thách chính mình, không ngừng thay đổi chính mình, cuối cùng họ đều bay qua dòng sông khổ ải đó một cách nhẹ nhàng.
Biên dịch: Mai Anh
(Sưu tầm trên mạng)

Tình bằng có cái trống cơm ; khen ai khéo vỗ ấy mới bồng bềnh…

Một đàn tang tình con nít, ………………..




Trống Cơm là một nhạc cụ thuần túy Việt Nam có từ cổ sơ. Chỉ có duy nhất dân tộc Việt Nam mới xử dụng nhạc cụ Trống Cơm, và cũng chỉ lưu hành trong các phường nhạc dân gian mà thôi. Trống Cơm không thấy được ghi chép trong bộ lễ nhạc của triều đình.

Theo các nhà khảo cứu về nhạc cụ Việt Nam. Dưới triều vua Lê Thánh Tông, đời Hồng Đức 1470. Có 3 ông là : Trần Nhân Trung, Đỗ Nhuận và Lương Thế Vinh đã dựa trên nền tảng âm nhạc Trung Hoa để lập thành 2 bộ nhạc cho triều đình Việt Nam. Đó là bộ Đồng Văn chuyên đặt ra nhạc phổ, và bộ nhả nhạc chuyên dùng tiếng người để ca hát.

Hai bộ nhạc này hoạt động dưới sự điều khiển của quan Thái Thường Quản Đốc, và chỉ chuyên dùng trong việc tế lễ ở triều đình, gồm có nhiều loại nhạc cụ như trống lớn, kèn, long sinh v.v… nhưng lại không có Trống Cơm.

Trái lại, cũng trong thời gian ấy những giàn nhạc giáo phường của tư nhân ra đời, và hoạt động mạnh mẽ trong dân gian đi song song với hệ thống âm nhạc của triều đình, nhạc cụ cũng gồm nhiều thứ, nhưng đặc biệt có thêm Trống Cơm.


Như vậy, nhạc cụ Trống Cơm chỉ lưu hành trong phường nhạc dân gian, dùng để tế lễ thần thánh, những buổi hát chèo và nhất là trong việc đưa đám ma.

Không có ai biết chắc chắn là Trống Cơm ra đời từ lúc nào, vì đây là một nhạc cụ được xây dựng lên bởi một hoàn cảnh thật éo le, phát xuất từ một mối tình đầy nước mắt của một nho sinh và trang thục nữ.

Trống Cơm mình dài và nhỏ, một loại trống có tính cách Việt hoàn toàn từ âm thanh, hình dáng, cho đến cách biểu diễn. Khi tấu nhạc, nhạc công phải đeo dây trống lên cổ để trống nằm ngang trước bụng, và vận dụng mười ngón tay thật khéo léo lên trên cả hai mặt trống.

Có một điều khác thường, là người ta đính thêm hai nắm cơm nếp nhỏ lên mặt trống

Có lẽ vì việc ấy mà cái trống được mang danh hiệu nôm na là Trống Cơm chăng ?

Hình dáng Trống Cơm mộc mạc bao nhiêu thì tiết điệu của nó phong phú bấy nhiêu. Nghe Trống Cơm nhất định chúng ta không thể lẫn lộn nó với những âm thanh nhạc cụ ngoại quốc. Nó có giọng u buồn sầu cảm, gợi thương gợi nhớ, khiến cho tâm hồn người thưởng ngoạn man mác hướng về quê hương nẻo cũ, trong những ngày tháng thanh bình của những đêm hát chèo, hát quan họ, để tiếng Trống Cơm tình tang, tình bằng ai oán cho một mối tình tan vỡ, bi thương của một thành sầu vạn cổ


Tục truyền rằng :

Ngày xưa có một nho sinh rất nghèo thi mãi mà không đậu, túng cùng phải đi ăn xin. Hằng ngày chàng đi ngang qua nhà ông phú hộ nọ, thì được một cô bé đứng chờ sẳn đem cho cơm trắng canh ngon, việc đó cứ theo thời gian trôi qua cả năm trời làm chàng nho sinh cảm động lắm, nhưng cũng không khỏi ngượng ngùng với người thiếu nữ đẹp.

Một hôm chàng tỏ lời cám ơn cô gái và không chịu nhận phần cơm giúp đở nữa, và cũng xin từ giả cô gái để đi sang một làng khác kiếm ăn. Lúc này cô gái mới nói thật cho chàng nho sinh biết về việc cô cho chàng cơm ăn mỗi ngày là vâng theo lệnh của cô chủ, con gái cưng của ông phú hộ. Chàng nho sinh lại càng cảm động hơn nữa, yêu cầu xin được gặp mặt cô chủ để tỏ lời cám ơn đã giúp đở của ăn bấy lâu, và luôn thể nói lời từ biệt. Cô bé gái hứa sẽ thưa lại với cô chủ, nhưng không chắc là cô chủ bằng lòng tiếp gặp chàng vì lão phú hộ rất khó tính. Nhưng cô bé lại bảo chàng vào ngày mai cũng giờ này cứ lại chốn đây đứng đợi, nếu cô chủ ra được sẽ tiếp chuyện cùng chàng.



Sáng ngày hôm sau, đúng giờ chàng nho sinh lại đến điểm hẹn thì gặp nàng con gái rất đẹp đã đứng chờ sẳn. Nét đẹp thùy mị phúc hậu của nàng đã chiếm trọn trái tim chàng nho sinh, nhưng yêu chỉ để mà yêu, chàng biết đến thân phận mình lắm. Thôi thì đành chôn chặt nỗi lòng cùng năm tháng và tỏ bày cùng trời đất, trong kiếp này thì không trông mong chi mối tình của chàng được đền đáp. Lòng dạ ấp úng muốn nói lời cảm tạ nàng đã giúp đở bấy lâu nay, nhưng không làm sao mở lời cho được, nỗi ngượng ngùng vì mặc cảm nghèo hèn khiến chàng nho sinh khổ sở đến trào nước mắt trước giai nhân.

Cảm thông nỗi nhục nhằn của chàng nho sinh đang gánh chịu, nàng nhỏ nhẹ buông lời :

-Tôi hiểu ý chàng muốn nói gì rồi, những lời ân nghĩa xin chàng không cần thiết phải bày tỏ lúc này. Sở dỉ những món qùa tôi gửi giúp là hiểu chàng đang sa cơ lỡ vận, đang vương vào bước đường khó khăn.

Và nàng tiếp tục khuyến khích chàng trai :

-Không lẽ chí của người trai mãi chịu cùng nhụt như vậy hoài sao ?


Nói mấy lời khuyến khích xong, nàng trao cho chàng nho sinh một phong bao :

-Nay chàng từ giả ra đi, tôi xin tặng một số bạc và một cái kim thoa để chàng tìm cách lập nghiệp. Một ngày nào đó thành đạt xin chàng hãy trở về đây, nếu duyên trời đã định thì thiếp xin đợi chàng.

Nàng bỏ lửng lời nói thoăn thoắt quày bước khuất dạng sau bức tường nhà.

Chàng nho sinh vô cùng cảm động trước mối ân tình của nàng con gái mà chàng chưa kịp biết tên. Chàng tự hứa sẽ cố gắng tạo dựng cho mình một sự nghiệp để xứng đáng với tình yêu của nàng, để cùng nàng kết tóc xe tơ cho tròn tâm nguyện của hai người. Nhưng sự nghiệp gì đây ??? Chàng vốn không duyên phận với đường khoa cử, thì mong gì có ngày bảng vàng đề tên đặng mà vinh quy bái tổ, cho ngựa chàng đi trước võng nàng theo sau, hoàn toàn không thề được, vì đã bao lần lều chỗng đi thi đều hỏng cả.

Nhưng lần này chàng nho sinh đã hạ quyết tâm, phải có một sự nghiệp gì đó để đền đáp lại mối ân tình kia. Phải tạo cho mình một địa vị trong xã hội hầu xứng đáng là người chồng của trang tiểu thơ khuê các.

Biết mình không duyên phận với bút nghiên, nên chàng bỏ mộng công hầu khanh tướng mà chỉ quyết học lấy một nghề. Sẳn có năng khiếu về âm nhạc, thế là chàng chọn nghệ thuật cầm ca để lập thân.


Nhờ có số bạc nàng giúp đở mà chàng bỏ ra ba năm thọ giáo với một danh sư, nhờ cố công trau rèn nghề nghiệp và luôn nhớ lời động viên của người con gái, nên suốt thơi gian ba năm không hề sao lãng học tập. Chàng đã thành công trong tiếng đàn lời hát, trong cách diễn xuất sáng tạo, và đã đứng ra lập lên một giáo phường chuyên phục vụ chốn cung đình.

Tiếng tăm chàng nổi như cồn, biết bao nàng công chúa chốn cung vàng điện ngọc mê mẩn, biết bao nàng tiểu thơ khuê các giàu sang say đắm giọng ca tiếng đàn của chàng, biết bao mệnh phụ phu nhân ra ngẫn vào ngơ vì gương mặt thanh tú điển trai, cùng lối diễn xuất mê hồn cũng như lời ăn tiếng nói ngọt ngào như có ma lực thu hồn người thưởng ngoạn. Nhưng gia đình giàu sang quyền qúy,thi nhau mời rước cho được phường nhạc của chàng về tư gia trình diễn.

Có danh vọng, có tiền bạc và được rất nhiều trang giai nhân tuyệt sắc yêu thương say đắm, những muốn cùng chàng kết tóc xe tơ. Nhưng chàng chỉ một lòng tưởng nghỉ đến nàng con gái ban cho cơm gạo thuở nọ, chiếc kim thoa nàng trao tặng làm kỷ niệm chàng luôn đeo bên mình, chén cơm Phiếu Mẫu chàng không làm sao quên cho được. Mối lương duyên trời định có lẽ sắp thành tựu chăng, chàng phải trở về đứng dưới mái tường ngày xưa mà cảm tạ tình nàng, cho hợp phố đoàn châu

Nhưng thảm thương thay !!!

Ngày chàng trở về cũng chính là cái ngày oan nghiệt, ngày trái tim rướm máu khóc hận cho mối tình vở lở, ngày mà chàng oán hận cao xanh qúa cơ cầu đã lấy đi sanh mạng của nàng.


Nàng đã quyên sinh vì lão phú hộ ép duyên !!!

Thế là tan tành với mộng ước bấy lâu.

Đau khổ !

Tuyệt vọng !

Chán nản !

Chàng đã toan quyên sinh theo nàng cho tròn với mối ân tình sâu thẳm, cho tròn với lời hứa cùng giai nhân lúc thuở hàn vi bên vệ đường. Nhưng trước khi quyên sinh chết theo nàng, chàng phải làm sao để được đưa đám tang cho nàng trước đã, và nhất là được khóc cho nàng mấy tiếng để tạ mối ân sâu nghĩa đậm, được để cho nàng tấm khăn tang nói lên ý nghĩa tình chồng vợ mặc dù chưa một lần chung sống, nhưng xin giữ trọn lời nguyền năm xưa.


Nghỉ ra được một kế. Chàng xin phép gia đình lão phú hộ cho chàng được đem phường nhạc đến để đưa vong linh người qúa cố.

Được sự đồng ý của lão phú hộ, chàng liền chế ta một cái trống nhỏ dài, hai mặt trống có đính hai nắm cơm nếp để nhắc lại kỷ niệm của thuở hàn vi được nàng cho cơm. Sợi dây trống đeo quàng qua cổ bằng vải trắng là ý nghĩa để tang cho nàng. Lúc đưa đám chàng mang Trống Cơm lên cổ, để trống nằm ngang trước bụng, vận dụng mười ngón tay vỗ vào mặt trống phát ra thứ âm thanh thật bi ai thống thiết. Tình tang…tang Tình !!! Đó là tiếng khóc kín đáo chàng kể lễ với người yêu có một tâm hồn cao thượng, chung thuỷ. Đó là tiếng nức nở tận cõi lòng sâu thẳm của một chàng nghệ sĩ đối với mối tình đầu tan vỡ, mà chàng chỉ còn cách mượn lấy ở âm thanh tiếng Trống Cơm để tiển vong linh nàng.

Phan Tình

(Văn Tuyển)




Thông tin truyền thông liên tục nói về giá sữa trong đó đặc biệt là sữa công thức. Mới nghe có vẻ như đó là sự quan tâm mẫn cán đối với các bà mẹ có con nhỏ. Nhưng có một thực tế khác: nghe riết nên quý bà đâm ra nhận thức rằng sữa công thức hoàn toàn có thể thay thế sữa mẹ vốn ít được nhắc đến.
Hoặc nếu có nói trong các spot quảng cáo truyền hình, thì đó là một câu vừa trầm thấp vừa phát ngôn với tốc độ… siêu thanh – dễ dàng thấy là họ yêu bé như họ rêu rào hay yêu lợi nhuận của họ. Hệ quả là tỉ lệ nuôi con bằng sữa mẹ ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới, dưới 20% so với 65% của Campuchia, 40% của châu Á.
Bé không phải là “bò nhi”
Thật ra, lâu nay nhiều bà mẹ quên một điều em bé không phải là một “bò nhi”. Sữa bò được thiết kế đặc thù giúp cho bò nhi nhanh chóng lớn thành một con vật to tê, thô kệch với bộ não nhỏ hơn nhiều và có nhiều bao tử hơn so với con người. Điều đó có nghĩa là sữa bò chứa lượng protein cao hơn ba lần sữa người. Sữa này khi con người tiêu thụ, sẽ tạo ra những rối loạn chuyển hoá có thể dẫn đến những vấn đề về xương trong cuộc sống sau này. Ngoài ra, sữa bò còn chứa quá nhiều natri và kali, không đủ vitamin E, sắt, và các axít béo thiết yếu để giúp cho não bộ phát triển tốt và thông minh. Và vì các thành phần của sữa bò khác xa so với sữa người, bé uống sữa bò có thể gặp phải các vấn đề về tiêu hoá và hấp thu. Hàm lượng cholesterol và chất béo bão hoà cao có thể ảnh hưởng đến tim của bé sơ sinh có vấn đề về tim bẩm sinh trong gia đình.
Mặc dầu các công ty sữa công thức nhất mực cho rằng sản phẩm của họ lành và tự nhiên, nhưng để sữa bò có thể tiêu hoá bán phần trong các hệ thống nhạy cảm của trẻ sơ sinh, nó phải được thay đổi rất nhiều. Những thay đổi này đòi hỏi công nghệ cao và sản xuất quy mô, nên sữa công thức ở Việt Nam là một gánh nặng cho các bà mẹ vì phải nhập, nhất là những bà mẹ nhận thức rằng sữa công thức có thể yên tâm để thay thế sữa mẹ.
Ngoài ra, thực sự là có ít quy định về những gì thực chính xác để đưa vào công thức, và nhiều khi, công thức sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào những thành phần sẵn có. Một số công thức thậm chí còn ngọt và có thể chứa các chất bẩn nhiễm từ quá trình chế biến như vụ nhiễm sữa nhiễm khuẩn của Fonterra, sữa nhiễm melamin ở Trung Quốc…


Sữa nào tốt nhất trong các loại sữa tốt nhì?
Nói sữa mẹ là tốt nhất, đương nhiên là các mẫu quảng cáo sữa công thức cũng muốn nói rằng sữa bò công thức của họ là tốt nhì. Nhưng tốt nhất trong các tốt nhì có không?
Nhiều ý kiến cho rằng không có sự khác biệt thực sự giữa các loại sữa công thức khác nhau trên thị trường. Thành phần trong công thức thường được một số nước mà ta nhập khẩu quy định chặt chẽ, trừ nước ta.
Những định tính như “giống sữa mẹ nhất”, “hệ thống tiên tiến vàng” và “đầy đủ dinh dưỡng” đều vô nghĩa vì các thành phần chính xác trong sữa mẹ còn chưa nhận biết được hết và còn thay đổi theo các yếu tố tuổi bé và ăn uống của mẹ bé. Tuy nhiên, ước tính sữa mẹ chứa khoảng 300 thành phần so với 75 thành phần trong sữa bò công thức.
—————————————————————————————-
Sữa công thức thương mại được quy định bởi FDA. Có ba loại chính:
Sữa bò công thức. Hầu hết sữa công thức cho trẻ em được làm bằng sữa bò đã thay đổi để giống với sữa mẹ. Sự thay đổi làm cho sữa này cân bằng về dưỡng chất – và dễ tiêu hoá hơn. Nhiều trẻ uống sữa bò công thức tốt. Tuy nhiên một số trẻ bị dị ứng với protein trong sữa bò – cần phải uống loại khác.
Sữa đậu nành công thức. Sữa công thức đậu nành có thể hữu dụng nếu bạn muốn loại bỏ protein động vật khỏi chế độ ăn của bé. Sữa cũng có thể là một chọn lựa đối với các bé không dung nạp hoặc dị ứng với sữa bò, hoặc đối với lactoz, một chất bột đường tự nhiên có trong sữa bò. Tuy nhiên, các bé dị ứng với sữa bò cũng có thể dị ứng với sữa đậu nành.
Sữa công thức thuỷ phân protein. Các loại sữa công thức này chứa protein đã bị bẽ gãy (thuỷ phân) – một phần hoặc nhiều phần – thành những kích cỡ nhỏ hơn so với trong sữa bò và sữa đậu nành. Đây là chọn lựa cho các bé bị dị ứng protein.


Bé cần sắt để lớn và phát triển, đặc biệt trong giai đoạn sơ sinh. Nếu bé không bú sữa bầu, cần mua sữa công thức có thêm sắt. Một số sữa công thức có thể DHA và ARA. Những axít béo omega-3 này có trong sữa mẹ và một ít thực phẩm như cá và trứng. Một số nghiên cứu cho rằng sữa có DHA và ARA có thể giúp trẻ sáng mắt và phát triển trí não, nhưng một số nghiên cứu khác chứng minh không có tác dụng.
Ngoài ra, nhiều sữa công thức còn đưa thêm vào các prebiotic và probiotic nhằm tăng cường sự hiện diện của vi khuẩn có lợi trong ruột, trong một cố gắng nhằm bắt chước những lợi ích miễn dịch của sữa mẹ. Những nghiên cứu trước đây khuyến khích, nhưng những lợi ích lâu dài của các chất này chưa được biết.
Sữa công thức thường được yêu cầu đối với bé dưới một tuổi, tiếp theo là sữa nguyên cho tới khi bé hai tuổi.
Công Khanh
(Sưu tầm trên mạng)


Ở một khu rừng nọ có ba cây cổ thụ đang bàn luận về tương lai. Cây thứ nhất nói:

- Một ngày nào đó tôi muốn được trở thành chiếc hộp đựng châu báu với hình dáng lộng lẫy.

Cây thứ hai nói:

- Tôi muốn trở thành con thuyền to lớn. Tôi sẽ chở đức vua và hoàng hậu đi khắp thế giới.

Và cây thứ ba:

- Tôi muốn vươn dài để trở thành cây to lớn nhất trong khu rừng này. Mọi người nhìn lên đồi sẽ thấy tôi vươn xa, chạm đến bầu trời.

Một vài năm sau đó một nhóm người đặt chân đến khu rừng và cưa những thân cây. Cả ba đều mỉm cười hạnh phúc vì tin mong ước của mình sẽ thành hiện thực.

Khi cây đầu tiên được bán cho một chủ trại mộc, nó được tạo thành máng đựng thức ăn gia súc và đặt trong kho thóc phủ lên bởi một lớp cỏ. Cây thứ hai được bán cho một thợ đóng thuyền đóng thành một chiếc thuyền nhỏ để câu cá. Cây thứ ba bị chặt thành từng khúc và quẳng lại trong bóng đêm. Đây chẳng phải là những điều mà chúng hằng mong đợi.



Một ngày nọ, một cặp vợ chồng đến kho thóc. Người vợ đã đến kỳ sinh nở, người chồng hy vọng tìm được một chiếc nôi cho đứa bé và máng cỏ đã trở thành chỗ ở ấm áp cho em. Cây thứ nhất cảm nhận cảm nhận được sự quan trọng của nó và hiểu rằng mình đang che chở một sinh linh bé nhỏ.

Vài năm sau, một nhóm người đi đánh cá trên chiếc thuyền của cây thứ hai gặp phải một trận bão lớn. Những người trên thuyền đã rất mệt mỏi, nhưng cây thứ hai biết rằng nó có đủ sự vững chãi để giữ an toàn và sự bình yên cho chủ nhân. Với cây thứ ba, một ngày, có ai đó đã đến và nhặt những khúc gỗ. Trên đỉnh đồi, nó được đóng thành một hàng rào ngăn chặn thú dữ. Khi ánh mặt trời vừa ló dạng, cây thứ ba nhận ra rằng nó có đủ sức mạnh để đứng vững trên đỉnh đồi này.



Khi sự việc xảy ra không theo như ý muốn, đừng tuyệt vọng vì mọi việc diễn ra đều có chủ đích. Cả ba cây cổ thụ đều thực hiện được những ước mơ của mình, dù cách thức để đạt đến đích cuối cùng không như mong đợi. Cuộc sống sẽ không phụ những kẻ có lòng.

(Sưu tầm trên mạng)